Nguồn gốc 2 tiếng Ba Đình

1803

Ngày 02/9/1945, tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công-nông đầu tiên ở Đông Nam Á. 71 năm trôi qua, 4 chữ “Vườn hoa Ba Đình” đã in sâu vào tâm khảm của nhiều người dân Việt Nam, nhưng không phải ai cũng tường tận “Ba Đình” có nguồn gốc từ đâu? Tại sao lại gọi là “Ba Đình Hà Nội”.

1. Tôi đem thắc mắc này xin thỉnh giáo Giáo sư Lê Văn Lan trong một lần gặp ông đến Bộ Tư lệnh Hải quân (Hải Phòng). Giáo sư cho hay: “Ngay đến người Hà Nội gốc cũng hiểu không tường tận hoặc hiểu không đúng về Ba Đình, mặc dù nó đậm ý lịch sử và xuất hiện ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/9/1945 tại Hà Nội”.

Vườn hoa Ba Đình năm 1945.
Vườn hoa Ba Đình năm 1945.

Theo Giáo sư Lê Văn Lan, Ba Đình là địa danh xã Ba Đình ngày nay của huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa), gắn liền với cuộc khởi nghĩa Ba Đình do Đinh Công Tráng cầm quân trong thời gian 1886 – 1887 dưới thời Cần Vương chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX. Trước khi phiên hiệu “xã Ba Đình” ra đời, ở vùng đồng chiêm trũng ngày đó có 3 làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh. Mỗi làng có một ngôi đình, được xây ở vị trí tiện quan sát, không có vật chắn phía trước. Nhìn từ đình làng Mỹ Khê, dứt khoát phải thấy các đình Thượng Thọ và Mậu Thịnh. Nơi đây, khi mùa mưa đến, mỗi ngôi đình như một ốc đảo nhỏ giữa mênh mông đồng nước. Đến được đình, chỉ có thể bằng đường độc đạo.

Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp ồ ạt xâm lược nước ta trên diện rộng. Nhân dân tỉnh Thanh Hóa lúc đó nói chung và dân nghèo huyện Trung Sơn (nay là huyện Nga Sơn), trong đó có người dân ở 3 làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh vùng dậy đấu tranh chống Pháp. Nổi bật cuộc đấu tranh thời ấy là Phong trào Cần Vương. Các thủ lĩnh của phong trào như Phạm Bành, Đinh Công Tráng đã họp bàn cùng các tướng lĩnh về kế hoạch xây dựng căn cứ Ba Đình, đồng thời kêu gọi người dân góp tre, rơm rạ để xây dựng căn cứ công sự. Dân 3 làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh đã nhường nhà cửa, vườn tược, chuyển đi ở nơi khác để nghĩa quân xây căn cứ. Nhờ vậy, chỉ trong một tháng, căn cứ Ba Đình đã được tạo dựng thành một cụm cứ điểm chiến đấu hết sức kiên cố. Cũng chính từ căn cứ này, nhiều nghĩa sĩ, người dân đã chiến đấu anh dũng và hy sinh tại đây, trong đó có Anh hùng Đinh Công Tráng.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường Ba Đình ngày nay.
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường Ba Đình ngày nay.

Tháng 7/1945, Hà Nội tiến hành đổi tên một số đường, trong đó có việc đổi một số tên đường có chữ tây mang chữ ta. Khi đó, vườn hoa Puginier trước Phủ Toàn quyền được đổi tên thành vườn hoa Ba Đình. Người đổi tên các tuyến đường lúc bấy giờ là Bác sĩ Trần Văn Lai – người Việt Nam đầu tiên giữ chức Thị trưởng Hà Nội. Giải thích về việc phải đổi tên đường, Giáo sư Lê Văn Lan cho biết: “Hầu hết các tên đường lúc đó ở Hà Nội đều đặt theo tiếng Pháp, do người Pháp đặt. Ví dụ Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch) đặt là Merlin, mang đậm chất lịch sử văn hóa Pháp. Trong khi đó, những người yêu nước, người có công, nghĩa sĩ của ta thì không được vinh danh. Vì vậy việc đặt tên đường, tên phố ở Hà Nội lúc đó là một cải cách có ý nghĩa và tiếng vang lớn”.

Sau khi bác sĩ Trần Văn Lai qua đời, ngày 30/8/1945, Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh đã mời Bác sĩ Trần Duy Hưng làm Thị trưởng Hà Nội. Một trong những nhiệm vụ mà ông Trần Duy Hưng được giao lúc đó là tiếp tục công việc của ông Trần Văn Lai đã làm: Xây dựng dự án và ra duyệt y việc đổi tên và đặt tên toàn bộ các đường phố và công trình công cộng của Thủ đô Hà Nội theo nguyên tắc xoá bỏ tàn tích thực dân, tôn vinh các chiến công và danh nhân Việt Nam, bảo tồn các địa danh truyền thống trong đó có tên của các phố, phường trong khu phố cổ và tiếp thu có điều chỉnh những quyết định của người đi trước mình.

2. Trước ngày 02/9/1945, vườn hoa Ba Đình đã thành địa điểm lịch sử khi được chọn để xây dựng lễ đài. Lễ đài ấy, ngay trên cổ có bồn hoa cỏ hình tròn, có vòng xuyến rộng rãi. Đây chính là nơi hội tụ nửa triệu người lúc đó làm lễ “Thề độc lập”. Tại đây, ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công bố Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào.

Tác giả bài viết (bên phải) trao đổi với Giáo sư Lê Văn Lan về tên gọi Ba Đình.
Tác giả bài viết (bên phải) trao đổi với Giáo sư Lê Văn Lan về tên gọi Ba Đình.

Vườn hoa Ba Đình lúc đó là nơi “Lễ trường hằng ngày” của người dân Hà Nội. Sau sự kiện “Thề độc lập” tại đó, Ủy ban Hành chính Hà Nội đã quyết định đổi tên chính thức vườn hoa Ba Đình thành vườn hoa Độc Lập. Đến thời gian thực dân Pháp trở lại tạm chiếm Hà Nội (1947-1954), Thị trưởng Hà Nội là Dược sĩ Thẩm Hoàng Tín đã đổi tên vườn hoa Độc lập thành vườn hoa Hồng Bàng, nhằm cho xứng hợp với tên đường Hùng Vương chạy dọc hướng Bắc – Nam kéo dài từ hồ Tây qua. Mãi đến sau ngày giải phóng Thủ đô (10/10/1954), Bộ Tuyên truyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới quyết định đổi tên gọi lại vườn hoa Hồng Bàng thành vườn hoa Ba Đình như trước đây, đồng thời bảo lưu địa danh nơi Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Tháng 8/1987, UBND huyện Nga Sơn tổ chức kỷ niệm 100 năm Khởi nghĩa Ba Đình. Trong sự kiện này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã về thăm lại chiến khu Ba Đình, trong đó thăm 3 làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh. Tại buổi nói chuyện với người dân nơi đây, Thủ tướng mong muốn người dân Ba Đình phát huy truyền thống quê hương, xây dựng kinh tế giàu mạnh trong thời kỳ đổi mới, xứng với tên gọi Ba Đình thân thương.

Cũng vào tháng 8/1987, Trường cấp III huyện Nga Sơn đã quyết định đổi tên thành Trường Ba Đình để ghi nhớ công ơn của Anh hùng Đinh Công Tráng nhân sự kiện 100 năm Khởi nghĩa Ba Đình. Bài hát “Nắng Ba Đình” của tác giả Hữu Nguyên cũng ra đời trong sự kiện này. Lời bài hát: Tự hào thay mái trường ngày nay/ một ngày vui nắng về tràn đầy/ rạo rực thay tâm hồn mê say/ là chúng tôi thầy trò yêu dấu/ Ba Đình ơi, Ba Đình ơi/ nắng Ba Đình tỏa sáng nơi nơi/ nay về đây, mang niềm vui/ trên quê hương Ba Đình lịch sử/ vui sao lòng tự hào/ trong tim tình dạt dào/ từ nay trường được mang tên mới/ phấp phới màu cờ/ trên mái trường Nga Sơn mến yêu, được nhiều thế hệ học sinh và nhân dân biết đến và lưu truyền cho đến bây giờ.

Ngày nay, Ba Đình thuộc huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa. Phía Bắc giáp Nga Vịnh, Nam giáp Nga Thắng, Đông giáp Nga Văn, Tây giáp huyện Hà Trung. Cách Ba Đình 3km về phía Đông Nam là núi Sa Liễn (núi Sến). Xa hơn chút nữa là núi Chiêm Ba, Tam Linh, núi Vân Hoàn nằm bên sông Lèn và bến đò Thắm. Phía Tây có núi Giao Thụy, phía Đông Bắc là dẫy núi Tam Điệp trùng trùng hiểm trở, như bức tường thành bao bọc chở che cho người dân xứ sở dưa hấu với truyền thuyết Mai An Tiêm và Từ Thức gặp tiên.

Ngày 2/12/1992, tại Quyết định số 3959 QĐ/BVHTT, Chiến khu Ba Đình đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Nguồn: http://www.baoxaydung.com.vn/news/vn/van-hoa-the-thao/nguon-goc-2-tieng-ba-dinh.html