Home Văn hóa - Thể thao Đi tìm màu tím hoa sim – Kỳ 1: Đứa bé đẻ...

Đi tìm màu tím hoa sim – Kỳ 1: Đứa bé đẻ rơi và bài thơ tình thế kỷ

1792
0

18-3 là ngày giỗ 10 năm thi sĩ Hữu Loan (1916-2010) giã từ cuộc thế. Phóng viên Tuổi Trẻ trở lại những đồi sim ấy để tìm hồn thơ của ông và tình yêu bất tử với “nàng vá tấm áo cho chồng ngày xưa”…

Ký họa về thi sĩ Hữu Lo an

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Được tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng”.

Đã 10 năm hương hồn nhà thơ Hữu Loan dạo chơi đồi hoa sim cùng cô gái bé nhỏ của mình, nhưng những dòng thơ tình của ông vẫn làm thổn thức biết bao trái tim.

Chiều cuối xuân nhạt nắng, từ TP Thanh Hóa, chúng tôi đi chừng 30km về trung tâm huyện Nga Sơn, từ xa đã dễ dàng nhận thấy ngọn núi Vân Hoàn sừng sững vươn lên giữa đồng bằng.

Đẻ rơi cửa chùa

Chùa Vân Lỗi nép bên sườn núi quay hướng ra sông Mã, nằm cách đường vào thôn Vân Hoàn chừng vài chục bước chân. Được xây dựng từ thế kỷ XIV thời nhà Trần, vách núi của ngôi chùa từng mang tên Sùng Nghiêm Tự này vẫn còn in dấu nhiều bài thơ do tiền nhân để lại. 

Nhưng không chỉ thế, 104 năm trước, nơi đây còn gắn liền với sự ra đời của một nhà thơ tên tuổi khá đặc biệt trong văn học Việt Nam: Hữu Loan.

Đứng trên những bậc đá cheo leo lên chùa, ông Nguyễn Hữu Dũng, người sãi giữ chùa, nở nụ cười thân thiện mời chào. 

Khi nghe chúng tôi hỏi thăm về thi nhân Hữu Loan, ông đã “khoe” ngay: “Tôi gọi nhà thơ là chú, bố tôi với nhà thơ là anh em chú bác ruột. Hồi xưa, ông ấy được đẻ loi (đẻ rơi) ngay cánh đồng trước chùa đây chứ đâu”.

Ông Dũng vừa nói vừa hướng ra đồng cói xanh xanh trước chùa, phía xa là con sông Mã hiền hòa uốn lượn. Câu chuyện ra đời của Hữu Loan được người sãi giữ chùa 76 tuổi kể đã lan truyền rất lâu ở làng. Ban đêm, sư trụ trì Sùng Nghiêm Tự bỗng thấy một vầng sáng vàng lóe lên phía trên núi Vân Hoàn.

Rạng sáng hôm sau, một người phụ nữ đang làm đồng phía trước chùa lên cơn đau đẻ bất ngờ. Bà lê vào tới thềm chùa thì sinh rớt người con ngay ở đó. Sư trụ trì ngày ấy đã nói với người phụ nữ rằng đứa bé con bà rất đặc biệt, hẳn sau này sẽ hơn người. Đứa bé đó chính là nhà thơ Hữu Loan.

Cậu bé lớn lên với trí thông minh học đâu nhớ đó càng khiến nhiều người làng tin vào “điềm trời”. Dù nhà nghèo Hữu Loan vẫn được cha mẹ cho theo con đường ăn học. Để rồi năm 1938, 22 tuổi, con đường học vấn của Hữu Loan đã tỏa sáng khi ông đỗ “tú tài Tây” tại Hà Nội, thời ấy rất hiếm người đạt tới được.

Chỉ cần có bằng cấp này là đủ để tìm việc trong một cơ quan hành chính đương thời. Nhưng cơ hội ấy chưa bao giờ nằm trong ý định của Hữu Loan. Sau khi có bằng tú tài Tây, ông hành nghề dạy học ngay trên quê hương mình.

Trong Địa chí Thanh Hóa (tập II, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, 2004) vẫn còn ghi tên Hữu Loan là một trong số các giáo viên cao đẳng tiểu học vốn khá hiếm hoi vào thời kỳ đất nước chưa giành được độc lập.

Cổng chùa ven núi Vân Hoàn là nơi người mẹ đẻ rơi cậu bé Hữu Loan rạng ngày 2-4-1916 – Ảnh: THÁI LỘC

Bài thơ khóc vợ trên đường hành quân

Cũng trong thời kỳ làm giáo viên tại Thanh Hóa, Hữu Loan đã có cơ duyên gặp người vợ đầu tiên trong đời mình, để sau đó làng thi ca Việt Nam xuất hiện những vần thơ bất hủ. 

Trong suốt hành trình chúng tôi theo tìm hiểu về Hữu Loan, câu chuyện về xuất phát điểm của bài thơ được rất nhiều người kể lại gần như nhau.

Hồi đó ở số 48 Phố Lớn (Trần Phú, Thanh Hóa ngày nay), bà Tham Kỳ (tức Đái Thị Ngọc Chất, vợ ông Lê Đỗ Kỳ, chánh thanh tra Đông Dương về canh nông) mở cửa hiệu tạp hóa bán nhiều loại giấy bút, sách vở. 

Bà Tham Kỳ là con ông Đái Xuân Quảng (một cử nhân Hán học, từng làm tri huyện), nên giỏi Hán ngữ lẫn Pháp ngữ, đam mê thơ phú, thuộc nhiều tác phẩm văn học cổ như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc…

Thời gian ở Thanh Hóa học tú tài, Hữu Loan vẫn thường xuyên lui tới cửa hiệu của bà Chất để thỏa mãn niềm đam mê sách vở. Bà Chất rất quý mến chàng trai con nhà nghèo hiếu học, đã mời Hữu Loan về kèm dạy học cho ba người con trai của mình. 

Lần đầu tiên Hữu Loan về nhà bà Chất, con gái thứ tư của bà vẫn còn là một cô bé còn rất nhỏ.

Bẵng đi một thời gian, khi đã là thầy giáo đang dạy Trường Alexandre de Rhodes do nhà thờ Công giáo ở Thanh Hóa lập, Hữu Loan lại được bà Chất mời về nhà dạy cho chính người con gái này, lúc đó đã là cô bé Lê Đỗ Thị Ninh 8 tuổi. Một thời gian sau, Hữu Loan tham gia kháng chiến.

Ông Nguyễn Hữu Đán, con trai út Hữu Loan, tâm sự: “Bố tôi kể rằng sau ngày độc lập 2-9-1945, khi đang làm tuyên huấn, cụ đã diễn thuyết vận động nhân dân ủng hộ cách mạng trong Tuần lễ vàng ở Thanh Hóa. Mẹ Ninh lúc đó vô tình thấy cụ đang diễn thuyết; là con nhà giàu đeo nhiều nữ trang, đã tháo hết ủng hộ cách mạng.

Về nhà, mẹ giải thích chuyện không còn vàng bạc với người mẹ là bà Tham Kỳ, rằng: “Mẹ ơi, hôm nay con gặp anh Loan. Anh đọc diễn văn Tuần lễ vàng trước bao nhiêu người, anh thông minh, giỏi lắm mẹ ạ”. Là phụ nữ biết “bệnh” tương tư, người mẹ hiểu rõ tâm tình của cô con gái hay nhắc đến anh Loan”.

Cũng chính bà Chất đã kết duyên cho mối tình đầu đời của Hữu Loan. Sau tiêu thổ kháng chiến, khi bà Chất đưa những người con của mình về sơ tán ở ấp Thị Long, Nông Cống (cách TP Thanh Hóa chừng 30km), Hữu Loan đã xin về phép và có một đám cưới giản đơn nhưng đầy hạnh phúc. Một đám cưới chân thật như lời thơ của ông:

“Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo cưới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!”.

Để rồi ba tháng sau đó, người vợ qua đời trong đau đớn. 

Một trong những người ở cùng Hữu Loan trong kháng chiến lúc bấy giờ là nhà thơ Vũ Cao đã từng viết lại thời khắc đau thương nhất của Hữu Loan: “Trong một quán nhỏ ở Thanh Hóa, anh báo tôi biết cái tin đột ngột: Lê Đỗ Thị Ninh vừa mất. Bàn tay anh cầm cốc nước run lên bần bật, nước bắn tung tóe xuống bàn, mặt anh tái xanh”. 

Và những đau đớn ấy theo suốt đường hành quân xa, những vần thơ bất hủ cứ thế theo dòng cảm xúc của nhà thơ tài ba ra đời.

Bài thơ sau thời gian “truyền tụng ngầm”, lần đầu tiên được Nguyễn Bính cho đăng trên báo Trăm Hoa. Không ít ý kiến “quy kết” bài thơ là “thứ văn chương ủy mị, mang tư tưởng tiểu tư sản”, được xem là nguyên cớ để Hữu Loan rời báo Văn Nghệ về quê lao động, thồ đá nuôi con. 

Ở miền Nam, tác phẩm Màu tím hoa sim được các nhạc sĩ tài hoa như Phạm Duy, Anh Bằng, Dzũng Chinh phổ nhạc, làm thổn thức biết bao trái tim. Đến năm 2004, Màu tím hoa sim được một công ty ở TP.HCM mua tác quyền với giá 100 triệu đồng…

Ảnh Hữu Loan và các bạn văn trưng bày tại Bảo tàng Văn học Việt Nam – Ảnh: THÁI LỘC chụp lại

Trích đoạn Màu tím hoa sim

 Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Được tin em gái mất/ trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu…

Người em trai “nàng thơ” kể suốt mấy chục năm trời gia đình không ai dám đọc dám nghe bài thơ Màu tím hoa sim vì nó quá thật, gợi sự “rờn rợn”, đau đớn, tiếc thương.

Nguồn: https://tuoitre.vn/di-tim-mau-tim-hoa-sim-ky-1-dua-be-de-roi-va-bai-tho-tinh-the-ky-20200318083643255.htm