Chuyện tình người chiến sĩ Điện Biên người Nga Sơn

1868

Sau 9 năm “nếm mật nằm gai”, ông Đào Văn Hiếu từ chiến trường Điện Biên Phủ trở về quê hương, với niềm vui của người chiến thắng. Đón con trai, mẹ ông giục: “Mày lấy vợ, sinh con để ông bà có cháu bế bồng, chứ chiến tranh biết bao giờ mới kết thúc?”. Nghe lời bố mẹ, trước khi đi chiến trường B, ông Hiếu cưới vợ. Chuyện tình của ông (người đã cùng đội trưởng Hoàng Đăng Vinh bắt sống tướng Đờ Cát trong chiến dịch Điện Biên) với cô nữ dân quân ở xã Nga Hưng (huyện Nga Sơn, Thanh Hóa) là hình ảnh lãng mạn cho tình yêu thời chiến trận.

Đẹp mãi chuyện tình thời chiến trận. Ảnh TL.
Đẹp mãi chuyện tình thời chiến trận. Ảnh TL.

Chuyện tình trong hồi ức

Vượt qua cánh đồng trồng đay bát ngát xã Nga Hưng, tôi hỏi thăm nhà ông “Hiếu Điện Biên”, chịnông dân đứng cạnh bờ mương đưa tay chỉ: “Chú đi thẳng đến ngã ba, có cây gạo là xóm 8, hỏi nhà ông Hiếu ai cũng biết”. Theo chỉ dẫn của chị, tôi đến nhà ông Hiếu và cất tiếng hỏi:

–  Xin lỗi, đây có phải là nhà bác Đào Văn Hiếu không ạ?

– Vâng. Tôi là vợ ông Hiếu đây. Ai đấy?

– Chào bác ạ. Cháu ở xã Nga Tân. Cháu là bộ đội hải quân thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 2 về quê  nghỉ phép ạ.

– Có việc gì không anh?

– Được biết bác trai là một trong 2 người bắt tướng Đờ Cát, bác cho cháu gặp bác trai được không ạ?

– Được, để tôi gọi nhá. Ông ơi, có anh nào ở xã Nga Tân gặp ông này. Ông Hiếu nói với vào: “Ai đấy, mời anh ấy vào nhà, bảo chờ tôi tí nhé”.

Ông Hiếu từ vườn sau nhà đi vào, tay cầm hai quả cam. “Trời nóng quá. Hái quả cam vắt nước cho thằng cháu nội”. Thấy tôi mặc quân phục hải quân, ông Hiếu bắt tay thân mật: “Chào đồng chí hải quân, có việc gì tìm tôi đây?”.

Ông Đào Văn Hiếu với thiếu nhi Điện Biên trong ngày kỷ niệm 10 năm giải phóng Điện Biên (1954-1964).
Ông Đào Văn Hiếu với thiếu nhi Điện Biên trong ngày kỷ niệm 10 năm giải phóng Điện Biên (1954-1964).

Trên chiếc phản kê giữa nhà, ông Hiếu mời tôi chén trà xanh đậm. Biết tôi là người cùng quê huyện Nga Sơn, ông Hiếu giọng phấn chấn: “Anh cũng người quê ta à. Chuyện đấy lâu rồi, già cả rồi. Anh đã hỏi vậy, tôi xin nói nhé”. Ông Hiếu bắt đầu kể chuyện được bố mẹ cưới vợ cho sau khi ông từ chiến trường Điện Biên Phủ trở về năm 1959.

Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, theo mệnh lệnh của chỉ huy, ông Hiếu tiếp tục ở lại đơn vị công tác. 4 năm sau, tháng 4/1959, ông Hiếu xuất ngũ trở về quê nhà ở xóm 8 xã Nga Hưng. “Từ lúc tôi đi đến lúc tôi về quê lần đầu tiên đúng 9 năm. Thấy tôi trở về, mẹ khóc như mưa vì mừng quá. 9 năm không thư từ, bố mẹ tôi cứ nghĩ tôi đã hi sinh, nhưng không ai dám nói”.

– Chuyện tình giữa bác và bác gái thế nào ạ?

– Chuyện là thế này. Sau một ngày trở về quê, mẹ tôi bảo: “Mày lấy vợ đi để ông bà có cháu bế bồng. Mày cứ đi suốt như thế thì biết bao giờ trở lại. Chiến tranh biết bao giờ kết thúc. Nhất định mày phải lấy vợ và đẻ cho bố mẹ thằng cu rồi mới được đi”.

Nhớ lại thời điểm ấy, ông Hiếu xúc động kể: Ngay chiều hôm ấy, mẹ dẫn về một cô gái 20 tuổi. Bà bảo với con trai: “Em nó tên là Cống, ở cùng làng với mình, cũng giỏi giang lắm con ạ”. 9 năm ở chiến trường tôi chỉ quen với súng đạn và hầm hào công sự. Thế nên, vừa nhìn thấy cô ấy là mặt tôi đỏ bừng, như có luồng điện chạy qua người. Cô gái mà mẹ tôi ưng đưa về làm dâu chẳng phải ai xa lạ, ngày nhỏ em vẫn cùng đám bạn hàng xóm, trong đó có tôi, ngày ngày chơi kéo co và nhảy dây trên cánh đồng đay. Sau nhiều năm gặp lại, chúng tôi nhìn nhau phút đầu e lệ. Nhưng chỉ qua ánh mắt thẹn thùng ấy, tôi hiểu cô dân quân mà mẹ đưa về đã phải lòng anh chiến sĩ Điện Biên ngay lần đầu hội ngộ, còn tôi cũng yêu em vì đức tính nết na, giản dị. Những ngày sau đó, như có sự sắp xếp, Xã đội Nga Hưng thường xuyên mời tôi đến giúp dân quân tập ngắm súng, tự vệ địa phương. Nửa năm sau thì chúng tôi làm đám cưới”.

Ông Hiếu lúc còn sống và vợ. (Chụp lại từ ảnh tư liệu của gia đình)
Ông Hiếu lúc còn sống và vợ. (Chụp lại từ ảnh tư liệu của gia đình)

Sau ngày cưới, cặp vợ chồng trẻ được bố mẹ cho ăn riêng. Gọi là ăn riêng nhưng hai đứa con đầu vẫn ngày ngày ở bên ông bà nội. Nga Hưng là một trong 9 xã của huyện Nga Sơn thuần nông đồng bái. Cuộc sống của người dân chủ yếu trồng đay, trồng khoai, ngô. Người cựu chiến sĩ Điện Biên khi đó gia nhập đội dân quân của xã, vợ thì làm vườn và nội trợ. 7 năm sau ngày cưới, họ sinh được 5 người con. Giữa năm 1966, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc trong giai đoạn quyết liệt, ông Hiếu tình nguyện lên đường ra chiến trường, chiến đấu tại chiến trường B, thuộc Sư đoàn 338, đóng tại tỉnh Thanh Hoá. Khác với cuộc chia tay tòng quân nhập ngũ lần đầu, lần thứ hai ông ra chiến trận có vợ và các con tiễn chân. Đứng giữa đình làng, ông ôm vợ và ôm lần lượt 5 đứa con, rồi dặn dò:  “Bố đi sẽ đem chiến thắng trở về. Ngày chiến thắng sẽ là ngày đoàn viên của gia đình”. Gạt nước mắt tiễn chồng ra trận, bà Cống mắt đỏ hoe nói lời động viên: “Chiến trường vẫy gọi, anh cứ đi, em đợi em chờ”. Họ chia tay trong niềm thương nhớ và sau đó là những năm tháng đợi chờ đằng đẵng…

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, ông Hiếu trở về quê hương. Đôi tay của người lính cầm súng qua hai cuộc kháng chiến, nay cầm cuốc cấy cày trên đồng ruộng. Mặc dù mất 61% sức khỏe, nhưng ông Hiếu tích cực lao động, bù đắp cho Vợ thời dài gánh vác việc nhà để chồng yên tâm chiến đấu. Ông cũng tham gia công tác xã hội ở địa phương như làm Bí thư chi bộ, trưởng thôn kiêm Hội trưởng Hội Cựu chiến binh xã. 5 người con của vợ chồng ông đều học hành thành đạt và đã có gia đình riêng.

Đó là câu chuyện tình ông Hiếu kể hồi tháng 6/2013.

Một nén tâm nhang

Lần về quê nghỉ phép mới đây, trở lại thăm ông Hiếu, vừa bước vào cửa tôi đã thấy di ảnh đặt trên bàn thờ. Thắp cho ông nén hương mà nước mắt rưng rưng. Thế là thêm một người làm nên chiến thắng Điện Biên đã vào cõi vĩnh hằng.

Bà Cống buồn buồn kể, ông Hiếu mất hồi tháng 8/2013 do tuổi cao yếu. Ông chẳng đau ốm gì. Ngày ông mất, rất nhiều đồng đội, cơ quan đến viếng. Có người đã cầm tấm ảnh họ chụp chung với ông Hiếu trên chiến trường Điện Biên khóc ròng. Mới tuần trước, cũng có nhà báo về quay phim, viết về ông ấy.

Kỷ niệm 62 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, những chiến sĩ cầm súng trên chiến trường Điện Biên ngày ấy giờ chẳng còn mấy người. Người vĩnh viễn nằm lại trên đồi A1, người vào cõi vĩnh hằng theo qui luật của “sinh lão bệnh tử”, song những câu chuyện tình thời chiến trận mà họ để lại mãi đẹp đẽ, thiêng liêng để lớp trẻ ngày nay cảm phục. Sự hy sinh xả thân vì Tổ quốc của họ mãi là niềm tự hào để thế hệ ngày nay tiếp bước trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Và có lẽ, thời gian có dài bao nhiêu, chiến thắng Điện Biên Phủ lùi vào dĩ vãng, chuyện tình của ông Hiếu đã trở thành cổ tích, song nó mãi là hình ảnh đẹp cho lớp trẻ ngày nay.

Nguồn: http://baodansinh.vn/chuyen-tinh-chien-si-dien-bien-d32640.html